h Ðc vin khoa h Ðc vÀ cÔng ngh Ê tr ªn ĐỨc Đ ¤i...

27
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRẦN ĐỨC ĐẠI NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA HAI LOÀI NGỌC CẨU (BALANOPHORA LAXIFLORA HEMSL.) VÀ LOÀI VÚ BÒ (FICUS HIRTA VAHL). Chuyên ngành: H Mã số: 62.44.01.14 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC Nội - 2018

Upload: others

Post on 30-Aug-2019

5 views

Category:

Documents


0 download

TRANSCRIPT

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TRẦN ĐỨC ĐẠI

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ

HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA HAI LOÀI NGỌC CẨU

(BALANOPHORA LAXIFLORA HEMSL.) VÀ LOÀI VÚ BÒ

(FICUS HIRTA VAHL).

Chuyên ngành: H

Mã số: 62.44.01.14

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC

Hà Nội - 2018

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ -

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. Trịnh Thị Thủy

Người hướng dẫn khoa học 2: TS. Nguyễn Quyết Tiến

Phản biện 1: PGS.TS. Phan Minh Giang

Phản biện 2: PGS.TS. Ngô Quốc Anh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp

Học viện, họp tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm

Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào hồi … giờ ..’, ngày … tháng

… năm 2018

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tín ấp t iết ủ l ận án

Việt Nam có 54 dân tộc cùng sinh sống như: dân tộc Kinh, Tầy,

Dao, Sán Chay, Mông, Nùng, Sán Dìu, Ê đe....Một số dân tộc có

những cây thuốc quý, những bài thuốc gia truyền có giá trị chữa

bệnh, trị bệnh có hiệu quả được người dân tin dùng và được hội Việt

Nam công nhận tuy nhiên những bài thuốc của người dân chưa được

chứng minh bằng khoa học. Hơn nữa Việt Nam thuộc quốc gia có

khí hệu nhiệt đới, do đó Việt Nam có hệ động thực vật phong phú và

đa dạng, Việt Nam có nhiều Khu bảo tồn thiên là nơi lưu giữ

hàng ngàn loài động thực vật quý hiếm, là nơi có nguồn tài nguyên

cây thuốc đa dạng và phong phú.

Cây ngọc cẩu (Balanophora laxiflora. Hemsl), cây vú bò

(Ficus hirta Vahl) là những cây thuốc quý trong kho tàng cây thuốc,

vị thuốc Việt Nam, cây ngọc cẩu và cây vú bò được người dân địa

phương dùng trị bệnh, chữa bệnh thông thường và trị nhiều chứng

bệnh nan y có hiệu quả cao, trên thế giới đã công bố những chất

được tách ra từ hai loài trên có hoạt tính sinh học tốt như tính kháng

viêm, kháng ung thư, chống oxi hóa .... Việc nghiên cứu thành phần

hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học của cây ngọc cẩu và cây vú

bò có vị trí rất quan trọng trong nguồn tài nguyên sinh vật ở rừng

đặc dụng Việt Nam bổ sung những tư liệu góp phần làm cơ sở khoa

học cho việc xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn và phát triển bền

vững tính đa dạng sinh học của rừng đặc dụng Việt Nam, làm sáng

tỏ những công dụng cây vú bò và cây ngọc cẩu mà dân gian vẫn

đang sử dụng. Do đó tôi chọn đối tượng đề tài “Nghiên cứu thành

phần hóa học và hoạt sính sinh học của hai loài ngọc cẩu

(Balanophora laxiflora Hemsl.) và loài vú bò (Ficus hirta

Vahl.)”

2. Mụ tiê ủ l ận án

- Nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học

của hai loài: loài ngọc cẩu (B. laxiflora) và loài vú bò (F. hirta).

3. N ng ng iên ứ ín

- Phân lập và xác định cấu trúc hóa học hai loài toàn cây ngọc

cẩu (B. laxiflora) và rễ loài vú bò (F. hirta).

- Đánh giá một số hoạt tính độc tế bào, hoạt tính kháng viêm,

hoạt tính chống tăng sinh trên dòng tế bào tủy xương cấp tính

(OCI-AML) của các cao chiết và của một số hợp chất phân lập

được nhằm định hướng cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.

C ư ng 1. TỔNG QUAN

1.1. Giới t iệ về loài ng ẩ (B. laxiflora)

1.2. Giới t iệ về i Ficus

1.2.1. Chi Ficus

1.2.2. Loài vú bò (F. hirta)

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC

NGHIỆM

Trình bày các nội dung: thu hái mẫu cây và xác định tên khoa

học; phương pháp xử lý và chiết mẫu; phương pháp khảo sát,

tách và tinh chế chất; phương pháp xác định cấu trúc và phương

pháp thử một số hoạt tính sinh học, hóa chất và thiết bị thí

nghiệm; quy trình chiết và thu các chiết xuất; quy trình phân lập

các chất từ chiết xuất; dữ kiện phổ các chất tách được.

2.1. Mẫ ng iên ứ

2.1.1. Mẫu cây ngọc cẩu

Mẫu thực vật dùng nghiên cứu là toàn cây ngọc cẩu (cây

cái). Mẫu tươi được thu hái vào tháng 10/2014 tại Huyện Na

Hang – Tỉnh Tuyên Quang. Mẫu cây được TS Đỗ Hữu Thư, Viện

Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật - Viện Khoa học và Công nghệ

Việt Nam xác định tên khoa học là (Balanophora laxiflora

Hemsl.) thuộc họ Balanophoraceae. Mẫu cây ngọc cẩu được lưu

tại phòng Hoạt chất Sinh học, Viện Hóa học – Viện Hàn lâm

Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

2.1.2. Mẫu cây vú bò

Mẫu thực vật dùng nghiên cứu là rễ cây vú bò. Mẫu tươi rễ

cây vú bò được thu hái vào tháng 10/2014 tại Huyện Yên Sơn -

Tuyên Quang. Mẫu cây được TS. Đỗ Hữu Thư, Viện Sinh thái và

Tài nguyên Sinh vật - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

xác định tên khoa học là (Ficus hirta Vahl.) thuộc họ Dâu tằm

(Moraceae). Mẫu cây vú bò được lưu tại phòng Nghiên cứu hợp

chất Tự nhiên, Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công

nghệ Việt Nam

2.2. P ư ng p áp ng iên ứ

2.2.1. Phương pháp chiết mẫu thực vật

Các mẫu thực vật đã được xay nhỏ rồi chiết ba lần với hỗn

hợp dung môi MeOH:H2O (9:1) ở nhiệt độ phòng. Lọc các dịch

chiết, cô đặc dưới áp suất giảm thu được chiết xuất MeOH-H2O.

Chiết xuất này được hòa vào nước và chiết phân bố lần lượt với

các dung môi n-hexane, EtOAc và n-butanol. Quay cất dung môi

dưới áp suất giảm thu được các chiết xuất tương ứng.

2.2.2. Phương pháp phân lập các hợp chất

Các cặn chiết thu được tiếp tục được phân tách thành các phân

đoạn sử dụng các phương pháp sắc ký khác nhau tùy thuộc vào

từng cặn chiết cụ thể như: sắc ký hấp phụ silica gel pha thường,

sắc ký hấp phụ silica gel pha đảo, sắc ký trao đổi ion sử dụng

Diaion HP-20, sắc ký rây phân tử sử dụng Sephadex LH-20.

2.2.3. Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất sạch tách ra

từ mẫu nghiên cứu

Phương pháp xác định cấu trúc hóa học được xác định dựa

trên các thông số vật lý kết hợp với các phương pháp phổ gồm:

Độ quay cực [α]D, phổ hồng ngoại (IR), phổ tử ngoại (UV-Vis),

phổ khối phun mù điện tử (ESI-MS), phổ khối phân giải cao

(HR-ESI-MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1D-

NMR): 1H-,

13C-NMR và hai chiều (2D-NMR): HSQC, HMBC,

COSY, NOESY.

2.2.4. Phương pháp thử hoạt tính sinh học

2.2.4.1. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính gây độc tế bào

Phép thử tiến hành xác định hàm lượng protein tế bào tổng số

dựa vào mật độ quang học (OD – Optical Density) đo được khi

thành phần protein của tế bào được nhuộm màu bằng

Sulforhodamine B (SRB).

2.2.4.2. Phương pháp apoptosis thự hiện tại Đại học Y Perugia -

Đại học tổng hợp Perugia nước Cộng hòa Italy

Phương pháp này dùng để xác định số tế bào sống khi có mặt

tế bào chết.

2.2.4.3. Phương pháp thử nghiệm hoạt tính ức chế nitric oxide

(NOs inhibition) thực hiện tại viện Hóa học – Viện Hàn lâm và

Khoa học Việt Nam

Phép thử xác định khả năng ức chế sản sinh NO của tế bào

macrophage RAW 264,7.

2.3. C iết tá và tin ế á ợp ất từ i loài ng iên ứ

2.3.1. Loài ngọc cẩu (B. laxiflora)

2.3.1.1.Chiết tách, tạo cao chiết

2.3.1.2. Từ cặn chiết dichloromethane

Bằng các phương pháp sắc ký cột silica gel và phương pháp

kết tinh lại trong các dung môi thích hợp phân lập được 8 hợp

chất sạch ký hiệu từ BL-1 đến BL-8, theo sơ đồ (Hình 2.1)

Hình 2.1. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn chiết dichloromethane

Các hợp chất phân lập được từ cặn chiết dichloromethane * Hợp chất BL-1 (4-hydroxy-3-methoxycinnamandehid)

* Hợp chất BL-2 (methyl 4-hydroxycinnamate)

* Hợp chất BL-3 (pinoresinol)

* Hợp chất BL-4 (methyl 3,4-dihydroxycinnamate)

* Hợp chất BL-5, scopoletin (7-hydroxy-6-methoxycoumarin).

* Hợp chất BL-6 (+)-lariciresinol

Hợp chất BL-6 (30 mg), dạng bột trắng. 3225D (c 0,1;

MeOH). Phổ khối ion dương ESI-MS cho pic ion giả phân tử m/z

383,1 [M+Na]+.

* Hợp chất BL-7 (+)-isolariciresinol

Hợp chất BL-7 (2,1 g), bột trắng. 4125D (c 0,1, MeOH). Phổ

khối (-)-ESI-MS, xuất hiện pic ion giả phân tử tại m/z 359 [M-H]-

* Hợp chất BL-8 (quercetin)

Hợp chất BL-8 (10 mg), dạng bột, màu vàng.

2.3.1.3.Từ cặn chiết ethyl acetate

Bằng các phương pháp sắc ký cột silica gel, Sephadex (LH-

20) và phương pháp kết tinh lại trong các dung môi thích hợp

phân lập được 7 hợp chất sạch ký hiệu từ BL-9 đến BL-15, theo

sơ đồ Hình 2.2.

Hình 2.2. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn chiết ethyl acetate

Các hợp chất phân lập được từ cặn chiết ethyl acetate * Hợp chất BL-9 (methyl gallate)

Hợp chất BL-9 (63 mg), dạng bột màu trắng.

* Hợp chất BL-10 ( ất mới)- balanochalcone

Hợp chất BL-10 (7 mg), dạng dầu. Phổ khối phân giải cao

HR-ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z 289,0696 [M+H-H2O]+. Phổ

FT-IR/KBr xuất hiện các tín hiệu dao động hóa trị của các liên

kết ʋmax (cm-1

): 3200 (tù, rộng: -OH liên kết hdro), 1633 (mạnh:

>C=O), 1601-1530 (C=C nhân thơm). 1H-NMR (500 MHz,

CD3OD), δH (ppm): 6,94 (1H; s; H-4), 6,81 (2H; s; H-2 và H-6),

5,92 (1H; d; J = 2,0 Hz; H-5′), 5,90 (1H; d; J = 2,0 Hz; H-3′),

5,34 (1H; dd; J = 3,0 Hz; 7,5 Hz; H-β), 3,90 (1H; dd; J = 7,5;

17,0 Hz; H-α), 3,72 (1H; dd; J = 3,0 Hz; 17,0 Hz; H-α); 13

C-

NMR (125 MHz, CD3OD), δC (ppm): 197,8 (>C = O), 168,4 (C-

4′), 165,5 (C-6′), 164,8 (C-2′), 146,9 (C-3), 146,5 (C-5), 131,8

(C-1), 119,3 (C-6), 116,3 (C-2), 114,7 (C-4), 103,4 (C-1′), 97,0

(C-3′), 96,2 (C-5′), 80,5 (C-β), 44,1 (C-α).

* Hợp chất BL-11 (β-hydroxydihydrochalcone)

Hợp chất BL-11 (20 mg), dạng chất rắn màu trắng đục. Phổ khối

phân giải cao HR-ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z 291,2671 [M+H]+.

Phổ 1H-NMR (500 MHz, CD3OD), δH (ppm): 2,72 (1H, dd, J = 17,0

Hz; 3,0 Hz), 3,13 (1H; dd; J = 17,0 Hz; 13,0 Hz), 5,36 (1H; dd; J =

13,0 Hz; 2,5 Hz), 5,90 (1H; d; J = 2.5 Hz), 5,92 (1H; d; J = 2.0 Hz),

6,84 (2H; d; J = 8,5 Hz), 7,33 (2H; d; J = 8,5 Hz). 13

C-NMR (125

MHz, CD3OD), δC (ppm): 44,0 (C-α) , 80,5 (C-β), 96,2 (C-5′), 97,1

(C-3′), 103,3 (C-1′), 116,3 (C-2, C-6), 129,0 (C-3, C-5), 131,1 (C-1),

159,0 (C-4), 164,9 (C-2′), 165,5 (C-6′), 168,5 (C-4′), 197,8 (> C=O).

* Hợp chất BL-12 (dimethyl-6,9,10-

trihydroxybenzo[kl]xanthene-1,2-dicarboxylat)

Hợp chất BL-12 (7 mg), dạng chất rắn, màu vàng đậm. Phổ

ESI-MS, píc ion giả phân tử m/z 381,0684 [M-H]- tính toán cho

công thức C20H14O8. 1H-NMR (500 MHz, CD3OD), δH (ppm):

3,94 (3H; s), 4,04 (3H; s), 6,73 (1H; s), 7,08 (1H; s), 7,25 (1H; d;

J = 8,5 Hz), 7,40 (1H; d; J = 8,5 Hz), 8,11 (1H; s). 13

C-NMR

(125 MHz, CD3OD), δC (ppm): 173,5 (>C=O), 168,2 (>C=O),

105,0 (C-8), 110,9 (C-11a), 112,3 (C-11), 120,9 (C-5), 121,2 (C-

2), 122,4 (C-4), 124,7 (C-3a1), 125,7, 125,9 (C-11b), 128,1 (C-

3a), 130,1 (C-3), 138,3, 143,2 (C-6), 143,1 (C-10), 148,4 (C-9),

149,8 (C-7a), 53,5 (-OCH3), 52,9 (-OCH3).

* Hợp chất BL-13 (p-cumaric acid)

Hợp chất BL-13 (20 mg), dạng chất rắn, trắng. 1H-NMR

(500 MHz, CD3OD), δH (ppm): 6,30 (1H; d; J = 16,0 Hz), 6,83

(2H; d; J = 8,5 Hz), 7,47 (2H; d; J = 8,5 Hz), 7,62 (1H; d; J =

16,0 Hz). 13

C-NMR (125 MHz, CD3OD), δC (ppm): 161,1 (C-9),

146,6 (C-4, C-7), 131,1 (C-2, C-6), 127,3 (C-1), 116,8 (C-8),

115,7(C-3, C-5).

* Hợp chất BL-14 (isolariciresinol 4-O-β-D-glucopyranoside)

Dạng bột vô định hình màu trắng (250 mg), 1H-NMR (500

MHz, DMSO-d6 ), δH (ppm): 6,68 (1H, d, J = 1,5 HZ, H-2) 6,69

(1H, d, J = 9,0 Hz, H-5), 6,50 (1H, dd, J = 8,1; 1,7 Hz, H-6), 3,79

(2H, d, J = 10, 0 Hz, H-7), 1,78 (1H, m, H-8), 3,43 (2H, m, H-9),

6,67 (1H, s, H-2′), 6,31 (1H, s, H-5′), 2,7 (1H, dd, J = 5,0; 4,5 Hz,

H-7′), 1,70 (1H, m, H-8′), 3,56 (2H, m, H-9′), 3,71 (3H, s, 3′-OCH3),

3,69 (3H, s, 5-OCH3), 5,0 (1H, d, J = 4,5 Hz), 3,1 -1,8 m. 13

C NMR

(125 Hz, DMSO-d6,), δC (ppm): 13,6 (C-1), 113,3 (C-2), 147,3 (C-

3), 144,1 (C-4), 115,2 (C-5), 121,4 (C-6), 45,9 (C-7), 38,0 (C-8),

59,4 (C-9), 130,2 (C-1′), 112,2 (C-2′), 144,7 (C-3′), 146,8 (C-4′),

116,6 (C-5′), 132,6 (C-6′), 32,2 (C-7′), 45,3 (C-8′), 63,5 (C-9′), 55,71

(3′-OCH3), 55,67 (5-OCH3), 100,2 (C-1′′), 73,0 (C-2′′), 76,5 (C-3′′),

68,6 (C-4′′), 76,8 (C-5′′), 60,0 (C-6′′).

* Hợp chất BL-15 (daucosterol)

2.3.1.3. Từ cặn chiết methanol

Bằng các phương pháp sắc ký cột silica gel, Sephadex (LH-

20) và phương pháp kết tinh lại trong các dung môi thích hợp

phân lập được 5 hợp chất sạch từ cặn methanol ký hiệu từ BL-16

đến BL-20 (Hình 2.3).

Hình 2.3. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn chiết methanol

Các hợp chất phân lập được từ cặn chiết methanol * Hợp chất BL-16 (5-hydroxymethylfurfural)

* Hợp chất BL-17 (methyl β-D-glucopyranoside)

Compound BL-17 (60 mg), crystalline.

* Hợp chất BL-18 (methyl 4-O-β-D-glucopyranosylconiferyl ether)

* Hợp chất BL-19 4-hydroxy-3,5-dimethoxybenzoyl

glucopyranoside (1-O-syringoyl-β-D-glucopyranose, erigeside C)

* Hợp chất BL-20 (lariciresinol 4-O-β-D-glucopyranoside)

Compound BL-20 (23 mg), white amorphous powder.

2.3.2. Phân lập các hợp chất từ rễ cây vú bò (F. hirta)

2.3.2.1. Chiết mẫu, tạo cặn chiết

Hình 2.4. Sơ đồ tổng quan phân lập các cao chiết từ rễ cây vú bò

2.3.2.2.Thử hoạt tính các cặn chiết

Bảng 2.1. Khả năng ức chế sản sinh NO của các mẫu nghiên cứu

Nồng độ

(µg/ml)

% ức chế sinh NO

n-hexan EtOAc n-BuOH L-NMMA

100 91,21 95,91 42,33 102,54

20 20,88 36,96 16,46 70,08

4 14,51 7,9 8,75 35,91

0,8 5,93 1,48 3,09 14,02

IC50 65,39 ± 3,46 27,35 ±

1,53 >100

7,81 ±

0,74

Bảng 2.2. Khả năng ức chế sự phát triển của tế bào RAW 264,7

Nồng độ

(µg/ml)

% tế bào sống sót

n-hexan EtOAc n-BuOH L-NMMA

100 104,25 33,29 99,67 95,45

20 103,53 100,26 98,43 96,65

4 100,92 99,65 99,52 98,43

Kết quả trên cho thấy: ở nồng độ 100 µg/ml, mẫu EtOAc ức

chế mạnh và gây chết tế bào nên giá trị ức chế NO ở nồng độ sẽ bị

loại bỏ và giá trị IC50 của mẫu này được tính từ nồng độ 20 µg/ml.

Kết quả trong phép thử ức chế NO các mẫu cho thấy EtOAc, n-

hexan thể hiện hoạt tính khá với giá trị 27,35 ± 1,5 và 65,39 ± 3,46

µg/ml. Các mẫu còn lại hoạt tính yếu hoặc không thể hiện hoạt

tính. Chất đối chứng dương L-NMMA hoạt động ổn định trong thí

nghiệm. Các kết quả thử nghiệm hoạt tính này là cơ sở để định

hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.

2.3.2.3. Cao ethyl acetate

Bằng các phương pháp sắc ký cột silica gel, Sephadex (LH-

20) và phương pháp kết tinh lại trong các dung môi thích hợp

phân lập được 3 hợp chất sạch từ cặn ethyl acetate ký hiệu từ F-1

đến F-3 (Hình 2.5).

Các hợp chất phân lập được từ cặn chiết ethyl acetate * Hợp chất F-1 (6,7-furano-hydrocoumaric acid methyl ester)

Hợp chất F-1 (10 mg), dạng bột màu trắng. Phổ khối phân

giải cao HR-ESI-MS xuất hiện pic ion giả phân tử m/z

243,0631[M+Na]+ (tính toán lý thuyết cho công thức

C12H12O4Na, 243,0736), công thức phân tử của F-1 được xác

định là C12H12O4. Phổ FT-IR/KBr xuất hiện các tín hiệu dao động

hóa trị của các liên kết ʋmax (cm-1

): 3250 (rộng, tù vân hấp thụ của

nhóm –OH liên kết hidro), 2853 (-OCH3), 1710 (>C=O, α, β-,

no), 1623-1539 (C=C vòng benzen). 1H-NMR (500 MHz,

CDCl3), δH (ppm): 7,48 (1H, d, J = 2,5 Hz, H-2′) 7,28 (1H, s, H-

5), 7,04 (1H, s, H-8), 6,63 (1H, d, J = 2,5 Hz, H-3′), 3,68 (3H, s,

OCH3), 2,99 (2H, t, J = 7,0 Hz, H-4), 2,75 (2H, t, J = 7.0 Hz, H-

3). 13

C-NMR (125 MHz, CDCl3), δC (ppm): 176,05 (C-2), 154,83

(C-7), 152,24 (C-9), 144,13 (C-2′), 123,91 (C-10), 121,67 (C-5),

121,09 (C-6), 106,03 (C-3′), 99,90 (C-8), 52,24 (OCH3), 35,56

(C-3), 24,83 (C-4).

Hình 2.5. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cao chiết EtOAc rễ cây vú

* Hợp chất F-2 (umbelliferone)

Hợp chất F-2 (15 mg), dạng tinh thể, điểm chảy 224-227 oC.

1H-NMR (500 MHz, CD3OD), δH (ppm): 7,86 (1H; J = 9,5 Hz; H-

4), 7,47 (1H; d; J = 8,5 Hz; H-5), 6,81 (1H; d; J = 8,5 Hz; 2,5 Hz; H-

6), 6,73 (1H; d; J = 2,5 Hz; H-8), 6,20 (1H; d; J = 9,5 Hz; H-3). 13

C-

NMR (125 MHz, CD3OD), δC ppm: 163,71 (C-7), 163,15 (C-2),

157,26 (C-9), 146,05 (C-4), 130,66 (C-5), 114,53 (C-6), 113,17 (C-

3), 112,36 (C-10), 103,43 (C-8).

* Hợp chất F-3 (bergapten)

Hợp chất F-3 (3 g), dạng tinh thể, màu vàng nhạt. 1H-NMR

(500 MHz, CDCl3), δH (ppm): 8,16 (1H, d, J = 10 Hz, H-4), 7,59

(1H, d, J = 2,5 Hz, H-9), 7,14 (1H, s, H-8), 7,02 (1H, d, J = 2,5 Hz,

H-10), 6,27 (1H, d, J = 10,0 Hz, H-3), 4,27 (3H, s, 5-OCH3). 13

C-

NMR (125 MHz, CDCl3), δC (ppm): 161,34 (C-2), 158,53 (C-7),

152,87 (C-5), 149,72 (C-8a), 144,92 (C-9), 139,36 (C-4), 112,86 (C-

6), 112,73 (C-3), 106,59 (C-4a), 105,15 (C-10), 94,02 (C-8), 60,24

(-OCH3).

2.3.2.2. Cặn n-butanol

Hình 2.6. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn n-BuOH

Bằng các phương pháp sắc ký cột silica gel, Sephadex (LH-

20) và phương pháp kết tinh lại trong các dung môi thích hợp

phân lập được 3 hợp chất sạch từ cao n-butanol ký hiệu từ F-4

đến F-11 theo sơ đồ (Hình 2.6).

Các hợp chất phân lập được từ cặn chiết n-butanol * Hợp chất F-4 (ethyl-β-D-fructofuranoside)

Hợp chất F-4 (8 mg), dạng dầu. Phổ khối phân giải cao HR-

ESI-MS pic ion giả phân tử m/z 231,0836 [M+Na]+ (tính toán lý

thuyết cho công thức C8H16O6Na, 231,0947), công thức phân tử của

F-4 được xác định là C8H16O6. 1H-NMR (500 MHz, CD3OD), δH

ppm: 4,12 (1H; d; J = 8,0 Hz, H-4’), 3,98-3,95 (m, 1H, H-3’), 3,79-

3,53 (m), 1,17 (3H, t, J = 7,0 Hz, H-2). 13

C-NMR (125 MHz,

CD3OD), δC ppm: 105,29 (C-2’), 83,41 (C-5’), 78,50 (C-3’), 77,33

(C-4’), 64,92 (C-6’), 62,01 (C-1’), 57,88 (C-1), 16,02 (C-2).

* Hợp chất F-5 (ethyl-β-D-glucopyranoside)

Hợp chất F-5 (7 mg), dạng dầu. Phổ khối phân giải cao HR-

ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z 231,0835 [M+Na]+ (tính toán lý

thuyết cho công thức C8H16O6Na, 231,0947), công thức phân tử

của F-5 được xác định là C8H16O6.

* Hợp chất F-6 (5-O-[β-D-apiofuranosyl-(1→2)-β-D-

glucopyranosyl]bergaptol) ( ất mới)

Hợp chất F-6 (10 mg), tồn tại dạng chất rắn, màu trắng. Phổ

khối phân giải cao HR-ESI-MS, có pic ion giả phân tử m/z

497,1295 [M+H]+ (tính toán lý thuyết cho công thức C22H25O13,

497,1217), vậy công thức phân tử của F-6 được xác định là

C22H24O13. Phổ FT-IR/KBr xuất hiện các tín hiệu dao động hóa trị

của các liên kết ʋmax (cm-1

): 3438 (mạnh, tù: OH liên kết hydro),

1687 (>C=O), 1613-1534 (C=C vòng benzen). Phổ 1H-NMR (500

MHz, DMSO-d6), δH (ppm): 6,45 (1H; d; J = 9,5 Hz, H-3), 8,31

(1H; d; J = 10,0 Hz, H-4), 7,37 (1H, s, H-8), 8,04 (1H, d, J = 2,5

Hz, H-2′), 7,18 (1H, d, J = 1,5 Hz, H-3′), 5,19 (1H, d, J = 8,0 Hz,

H-1′′), 3,58-3,55 (1H, m, H-2′′), 3,50-3,46 (3H, m, H-3′′), 3,25-

3,22 (3H, m, H-4′′), 3,50-3,46 (3H, m, H-5′′), 3,74 (1H, m, 6′a),

3,50-3,46 (1H, m, 6′′b), 5,34 (1H, d, J = 2,5 Hz, H-1′′′), 3,80 (1H,

br s, H-2′′′), 3,82 (1H, d, J = 9,0 Hz, H-4a), 3,61 (1H, d, J = 9,0

Hz, H-4b), 3,25-3,22 (3H, m, H-5′′′). 13

C-NMR (125 MHz,

DMSO-d6), δC (ppm): 159,70 (C-2), 112,55 (C-3), 140,03 (C-4),

151,26 (C-5), 110,30 (C-6), 156,95 (C-7), 94,85 (C-8), 147,67

(C-9), 105,89 (C-10), 146,24 (C-2′), 103,47 (C-3′), 99,03 (C-1′′),

78,48 (C-2′′), 76,67 (C-3′′), 69,79 (C-4′′), 76,97 (C-5′′), 60,59 (C-

6′′), 109,68 (C-1′′′), 76,0 (C-2′′′), 78,73 (C-3′′′), 73,29 (C-4′′′),

63,0 (C-5′′′).

* Hợp chất F-7 (adenosine)

Hợp chất F-7 (15 mg), dạng bột rắn, trắng. Phổ khối phân giải

cao HR-ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z 268,1046 [M+H]+ (tính

toán lý thuyết cho công thức C10H14N5O4, 268,0968), vậy công thức

phân tử của F-7 được xác định là C10H13N5O4. 1H-NMR (500 MHz,

DMSO-d6), δH (ppm): 8,34 (1H, s, H-8), 8,13 (1H, s, H-2), 5,88

(1H, d, J = 6,0 Hz, H-1′), 4,61 (1H, dd, J = 6,0; 5,5 Hz, H-2′), 4,14

(1H, dd, J = 4,5; 3,0 Hz, H-3′), 3,96 (1H, dd, J = 3,5; 3,0 Hz, H-4′),

3,68-3,66 (1H, m, H-5a′), 3,57-3,54 (1H, m, H-5b′). 13

C-NMR (125

MHz, DMSO-d6), δC (ppm): 156,11 (C-6), 152,32 (C-2), 149,04 (C-

4), 139,86 (C-8), 119,33 (C-5), 87,88 (C-1′), 85,84 (C-4′), 73,41 (C-

2′), 70,61 (C-3′), 61,64 (C-5′).

* Hợp chất F-8 (6-carboxy-umbelliferone)

Hợp chất F-8 (10 mg), dạng rắn, màu trắng. Phổ khối phân giải

cao HR-ESI-MS cho pic ion giả phân tử tại m/z 229,0104 [M+H]+

(tính toán lý thuyết cho công thức C10H7O5 229,0215), vậy công

thức phân tử của F-8 được xác định là C10H6O5. 1H-NMR (500

MHz, CD3OD): δH (ppm): 8,11 (1H; s; H-5), 7,89 (1H; d; J = 9,5

Hz, H-4), 6,70 (1H; s; H-8), 6,19 (1H; d; J = 9,5 Hz, H-3). 13

C-NMR

(125 MHz, CD3OD), δC (ppm): 174,31 (-COOH), 167,22 (C-7),

163,46 (C-2), 158,76 (C-9), 146,46 (C-4), 132,34 (C-5), 118,47 (C-

6), 112,23 (C-3), 112,01 (C-10), 103,90 (C-8).

* Hợp chất F-9 (picraquassioside A)

Hợp chất F-9 (10 mg), dạng rắn, màu trắng. Phổ khối phân giải

cao HR-ESI-MS pic ion giả phân tử m/z 421,1108 [M+Na]+ (tính toán

lý thuyết cho công thức C18H22O10Na, 421,1213), vậy công thức phân

tử của F-9 là C18H22O10. Phổ FT-IR/KBr xuất hiện các tín hiệu dao

động hóa trị của các liên kết ʋmax (cm-1): 3381 (mạnh, tù: -OH liên kết

hydro), 2937 (yếu, -OCH3), 1708 (>C=O), 1619-1509 (C=C vòng

benzen). 1H-NMR (500 MHz, CD3OD), δH (ppm): 7,61 (1H; d; J =

2,0 Hz; H-2′), 7,12 (1H; s; H-8), 6,98 (1H; dd; J = 2,0 Hz; 1,0 Hz; H-

3′), 4,95 (1H; d; J = 7,5 Hz; H-1′′), 4,07 (3H; -OCH3), 3,95 – 3,44

(CH-OH&CH2-OH đường), 3,10-3,07 (2H; m; H-4), 2,55 (2H; br s;

H-3). 13

C-NMR (125 MHz, CD3OD), δC (ppm): 174,0 (C-2), 156,97

(C-7), 155,62 (C-9), 152,36 (C-5), 144,64 (C-2’), 117,07 (C-10),

114,10 (C-6), 105,53 (C-3′), 103,24 (C-1′′), 94,75 (C-8), 78,20 (C-

3′′), 78,10 (C-5′′), 75,01 (C-2′′), 71,40 (C-4′′), 62,57 (C-6′′), 60,67 (-

OCH3), 35,22 (C-3), 20,51 (C-4).

* Hợp chất F-10 (rutin)

* Hợp chất F-11 (aspantic acid)

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. P ân lập á ợp ất từ ây ng ẩ (B. Laxiflora)

Từ loài B. laxiflora 20 hợp chất đã được phân lập. Bằng các

phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR và phổ khối lượng

xác định cấu trúc hóa học của 20 hợp chất ký hiệu từ BL-1 đến BL-

20, trong đó có 1 hợp chất mới Balanochalcone (BL-10), 3 hợp chất

(BL-11; BL-12; BL-16) lần đầu phân lập từ loài B. laxiflora.

.

Hình 3.1. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân

lập từ loài B. laxiflora

T ảo l ận ợp ất BL-10 (C ất mới)- Balanochalcone.

Hình 3.2. Cấu trúc hóa học của hợp chất BL-10 và các tương tác

chính (H -> C) HMBC

Phổ HR-ESI-MS của hợp chất BL-10 xuất hiện pic ion giả

phân tử tại m/z 289,0698 [M+H-H2O]+

(tính toán lý thuyết cho

công thức C15H13O6 289,0740), vậy công thức phân tử của BL-10

được xác định là C15H14O7. Phổ FT-IR/KBr có đỉnh hấp thụ đặc

trưng nhóm hydroxyl ở (3200 cm-1

), carbonyl (1633 cm-1

) và

vòng thơm (1601 và 1530 cm-1

) từ những lập luận trên kết hợp so

sánh với các tài liệu cho thấy hợp chất BL-10 có bộ khung β-

hydroxydihydrochalcone [119, 120]. Dựa vào phổ một chiều hai

chiều có thể suy luận chất BL-10 có cẩu tạo kiểu ABX. Có 5 tín

hiệu proton thuộc nhân thơm, có một nhóm (-CH2-). Phổ 13

C-

NMR của BL-10 cho tín hiệu của 15 nguyên tử carbon gồm một

nhóm xeton (197,8 ppm), một nhóm methylene, một nhóm

oxymethine và tín hiệu của hai vòng benzene. Phổ 1H-NMR có 2

singlet δH 6,81 (2H) và 6,94 (1H) tương ứng với H-2, H-6 và H-

4.

Hình 3.3. Phổ HMBC của hợp chất BL-10 ( ất mới)

Phổ HMBC có tương tác của H-2 và H-6 với C-1, C-3, C-4,

C-5; H-4 tương tác với C-1, C-2, C-3, C-5 và C-β tương tác với

H-2 và H-6. Hai proton doublet ở δH 5,92 và 5,90 có cùng hằng

số (J = 2,0 Hz) đặc trưng cho hai vị trí ita (H-3′ và H-5′) của

vòng thứ hai. Tín hiệu của C-β cộng hưởng phía trường thấp δ

80,5 trong phổ 13

C-NMR và phổ HMBC có tương tác của H-β

với carbon >C=O và H-α với C-β, >C=O, C-1. Từ những lập luận

ở trên và so sánh với các chất có cùng khung cấu trúc [119, 120],

hợp chất BL-10 được xác định là một dạng β-

hydroxydihydrochalcone mới và đặt tên là balanochalcone.

Không xác định được cấu hình tuyệt đối của C-β vì góc quay cực

bằng 025

D (c 0,1; MeOH), do đó cấu hình của hợp chất BL-10

dạng hỗn hợp rasemic (D, L).

3.2. P ân lập á ợp ất p ân lập từ rễ cây vú bò (F. hirta)

Từ rễ cây vú bò (F. hirta) phân lập được 11 hợp chất. Bằng các

phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR, phổ khối lượng xác

định cấu trúc hóa học của 11 hợp chất ký hiệu từ F-1 -> F-11, trong

đó có một hợp chất mới F-6, một hợp chất mới phân lập từ tự

nhiên F-1, 8 hợp chất F-3 -> F-11 lần đầu tiên phân lập từ loài F.

hirta.

3.2.1. Hợp chất F-1 (6,7-furano-hydrocoumarate methyl ester)

chất mới phân lập từ tự nhiên

Hình 3.4. Cấu trúc hóa học chất F-1 và các tương tác chính (H ->

C) HMBC

Hợp chất F-1 dạng vô định hình, màu trắng. Phổ khối phân

giải cao HR-ESI-MS xuất hiện pic ion giả phân tử m/z

243,0631[M+Na]+ (tính toán cho công thức C12H12O4Na,

243,0736), công thức phân tử của F-1 được xác định là C12H12O4.

Phổ FT-IR/KBr xuất hiện các tín hiệu dao động hóa trị của các liên

kết ʋmax (cm-1

): 3250 (rộng, tù vân hấp thụ của nhóm –OH liên kết

hydro), 1710 (>C=O), 2853 (2-OCH3), 1623-1539 (C=C vòng

benzene).

Hình 3.5. Phổ HMBC của hợp chất F-1

Phổ 1H-NMR (500 MHz, CDCl3), δH (ppm): xuất hiện các tín

hiệu đặc trưng của khung bezofuran. Các tín hiệu của khung

bezofuran ở δH 7,48 (1H, d, J = 2,5 Hz; H-2’), 6,63 (1H, d, J =

2,5 Hz; H-3’), hai tín hiệu proton của nhân thơm ở 7,28 (1H; s;

H-5), 7,04 (1H; s; H-8). Ở 3,68 (3H; s; -OCH3) và các proton

không vòng ở 2,99 (2H; t; J = 7,0 Hz; H-4), 2,75 (2H; t; J = 7,0

Hz; H-3). Phổ 13

C-NMR và phổ HSQC xuất hiện tín hiệu của 12

nguyên tử carbon ở δC 176,05 (C-2), 154,83 (C-7), 152,24 (C-9),

144,13 (C-2′), 123,91 (C-10), 121,67 (C-5), 121,09 (C-6), 106,03

(C-3′), 99,90 (C-8), 52,24 (-OCH3), 35,56 (C-3), 24,83 (C-4),

trong đó có 1 nguyên tử carbon carbonyl (>C=O) ở 176,05 (C-2),

2 nguyên tử carbon không vòng tại 35,56 (C-3), 24,83 (C-4), 4

carbon methine (CH) ở 121,67 (C-5), 99,90 (C-8), 144,13 (C-2’),

106,03 (C-3’) và 52,24 (2-OCH3).

Phổ HMBC xuất hiện các tương tác của proron ở δH 2,99 (H-

4) với nguyên tử carbon (C-5, C-9, C-10, C-2, C-3), ở 2,75 (H-3)

tương tác với (C-10, C-4, C-2), proton của nhóm (-OCH3) tương

tác với C-2 do đó gốc este và khung bezofuran liên kết với nhau

tại vị trí C-10 và C-4. Ngoài ra proton ở 7,28 (1H, s, H-5) tương

tác với các nguyên tử carbon (C-7, C-9, C-4, C-3’), proton ở 7,04

(1H, s, H-8) tương tác với các nguyên tử carbon (C-6, C-10, C-7,

C-9), H-5 không tương tác với C-8 và ngược lại điều này khẳng

định C-5 và C-8 ở vị trí đối diện nhau trong vòng benzene, các vị

trí nguyên tử hydro của vòng benzene còn lại đều bị thế. Vì ở

2,99 H-4 tương tác với nguyên tử carbon (C-5, C-9, C-10, C-2,

C-3) do đó C-10 (123,91) ở giữa C-9 (152,24) và C-5 (121,67)

trong vòng benzene (C-9 bị thế bởi nhóm -OH, C-10 thế bởi gốc

este) và hai vị trí còn lại của vòng benzene Tại vị trí liên kết giữa

121,09 (C-6) và 154,83 (C-7) liên kết với khung furan. Tại 7,48

(H-2’) tương tác với các nguyên tử carbon (C-7, C-6, C-3’), 6,63

(H-3’) tương tác với các nguyên tử carbon (C-7, C-5, C-2’, C-6)

do đó H-2’ và H-3’ tương ứng với C-2’, C-3’ liên kết trực tiếp

với nhau trong khung furan, ở 7,28 (H-5) tương tác với nguyên tử

carbon (C-3’, C-7, C-9, C-4) do đó C-6 ở giữa C-5 và C-3’ vị trí

còn lại là C-7. Dựa vào những lập luận ở trên kết hợp so sánh dữ

liệu phổ NMR của hợp chất F-1 với dữ liệu phổ NMR của hợp

chất 6,7-furano-hydrocoumarate methyl ester được tạo ra bằng

con đường sinh tổng hợp [129], là trùng khớp, do đó hợp chất F-

1 được xác định là 6,7-furano-hydrocoumarate methyl ester.Hợp

chất 6,7-furano-hydrocoumarate methyl ester là hợp chất mới

phân lập được từ tự nhiên.

3.2.1. Hợp chất F-6 (5-O-[β-D-apiofuranosyl-(1→2)-β-D-

glucopyranosyl]bergaptol) (hợp chất mới)

.

Hình 3.6. Cấu trúc hóa học của hợp chất F-6 và các tương tác (H

-> C) HMBC chính

Phổ khối phân giải cao HR-ESI-MS, pic ion giả phân tử m/z

497,1295 [M+H]+ (tính toán lý thuyết cho công thức C22H25O13,

497,1217), vậy công thức phân tử của F-6 được xác định là

C22H24O13. Phổ 1H-NMR có các tín hiệu đặc trưng cho khung

furanocoumarine ở δH 8,30 (1H; d; J = 9,5 Hz; H-4), 8,05 (1H; d;

J = 2,5 Hz; H-2'), 7,37 (1H; s; H-8), 7,17 (1H; d; J = 1,5 Hz; H-

3'), 6,45 (1H; d; J = 9,5 Hz; H-3). Hơn nữa, các tín hiệu của hai

đơn vị đường có hai proton đặc trưng tại δH 5,34 (1H; d; J = 2,5

Hz), 5,20 (1H; d; J = 8,0 Hz) và các proton khác ở δH 3,83-3,22

cũng quan sát thấy trong phổ 1H-NMR. Phổ

13C-NMR và HSQC

của F-6 hiển thị 22 tín hiệu của nguyên tử cacbon, bao gồm ba

metylen (-CH2-), mười hai methine (>CH-) và bảy nguyên tử

cacbon bậc bốn. Trong đó, 11 carbon được gán cho

furanocoumarin và 11 carbon gán cho hai đơn vị đường. Dữ liệu 13

C-NMR cho thấy sự hiện diện của một phân tử glucopyranose ở

δC 99,03, 78,48, 76,97, 76,67, 69,79, 20,59 và một phần

apiofuranose δC 109,68 (C-1'''), 78,73, 76,00, 73,29, 63,00. Hai

đơn vị đường được xác định là cấu hình β-D trên cơ sở giá trị của

các giá trị J1,2 của hai hạt proton H-1' và H-1'' là 2,5 Hz và 8,0 Hz

, tương ứng [137-138]. Cấu hình β-anomeric của khung

apiofuranosyl được khẳng định thêm bởi tín hiệu anomeric tại δC

109,9 với 3JH-H = 1,2 Hz. Các tương tác HMBC quan sát được

giữa proton H-1'' (δH 5,34) và carbon C-2'' (δC 78,48), giữa

proton H-2'' (δH 3,57) và carbon C-1''' (δC 109,68), C-2'(δC 78,48)

chỉ ra rằng đơn vị đường 1 sẽ là O-β-D-apiofuranosyl(1 → 2)-O-

β-D-glucopyranoside.

Hình 3.7. Phổ HMBC của hợp chất hợp chất F-6

Các tương tác HMBC giữa proton H-1'' (δH 5,20) và carbon C-5

(δC 166,70) xác nhận rằng vị trí của đơn vị đường ở C-5

furanocoumarin. Các tương tác chính giữa (H→C) HMBC được

biểu diển trong (Hình 3.3). Các số liệu phổ NMR hai đơn vị đường

của hợp chất F-6 trùng khớp với số liệu NMR của các phân tử

đường đã được công bố trước đây [139]. Dựa vào các lập luận ở

trên, cấu trúc của F-6 được xác định là 5-O-[β-D-apiofuranosyl- (1

→ 2)-β-D-glucopyranosyl] bergaptol.

F-1 F-2 F-4 F-5

F-7 F-6 F-9

F-3 F-10 F-11

Hình 3.8. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập

từ loài F. hirta

Hợp chất 6,7-furano-hydrocoumarate methyl ester lần đầu

phân lập từ tự nhiên (F-1), umbelliferone (F-2), bergapten (F-3),

Ethyl β-D-fructofuranoside (F-4), ethyl β-D-glucopyranoside (F-

5), 5-O-[β-D-apiofuranosyl-(1→2)-β-D-glucopyranosyl]bergaptol

ất mới (F-6), adenosine (F-7), 6-carboxyumbelliferone (F-8),

picraquassioside A (F-9), rutin (F-10), acid aspartic (F-11).

3.3. Kết q ả t ử oạt tín sin

3.3.1. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào loài ngọc cẩu

3.3.1.1. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào thực hiện tại Phòng

Hóa Sinh ứng dụng Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và

Công nghệ Việt Nam

Thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào trên 4 dòng tế bào ung

thư: ung thư biểu mô KB, ung thư gan Hep-G2, ung thư phổi Lu-

1, ung thư vú MCF-7 của 4 chất sạch (BL-4, BL- 10, BL-11,

BL-12) kết quả: hợp chất methyl 3,4-dihydroxycinnamate (BL-4) và hợp chất dimethyl 6, 9, 10-

trihydroxybenzo[kl]xanthene-1,2-dicarboxylate (BL-12) có hoạt

tính gây độc tế bào trên dòng ung thư biểu mô (KB) với giá trị

IC50 lần lượt là 107,06 µM và 80,37 µM, các dòng tế bào ung thư

còn lại có hoạt tính yếu hoặc không có hoạt tính. Các hợp chất

còn lại có hoạt tính yếu hoặc không có hoạt tính.

3.3.1.2. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào thực hiện thử

nghiệm tại Đại học Y Perugia - Đại học tổng hợp Perugia nước

Cộng hòa Italy

Thử nghiệm hoạt tính chống tăng sinh trên dòng tế bào bạch cầu

tủy xương cấp tính (OCI-AML) đối với các hợp chất BL-1, BL-2,

BL-4, BL-6, BL-7, BL-9: Kết quả hợp chất BL-2 có tác dụng ở

nồng độ cao 1685 μM (300 μg/ml) và BL-9 có tác dụng ở 815

μM (150 μg/ml), có thể làm giảm số tế bào OCI, chủ yếu là do

kích thích apoptosis (gây chết tế bào theo chương trình). Hợp

chất BL-1 ở nồng độ 421,6 μM (75 μg/ml) và 210,7 μM (37,5

μg/ml) gây chết tế bào nhưng không đủ để làm thay đổi số tế bào

OCI trong chu kỳ tế bào. Hợp chất methyl 3,4-

dihydroxycinnamate (BL-4) là một hợp chất có hoạt tính mạnh vì

nó làm giảm số tế bào OCI thậm chí với nồng độ thấp đến 80,5

μM (15,62 μg/ml) và đây là kết quả của sự gia tăng apoptosis và

giảm sự tăng sinh. Hợp chất BL-6, BL-7 được xem như không

thể hiện hoạt tính.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

>❖ Kết l ận

Loài F. hirta ở Việt Nam lần đầu được nghiên cứu về thành

phần hóa học và hoạt tính sinh học. Lần đầu tiên ở Việt Nam các

chất sạch phân lập từ loài B. laxiflora được nghiên cứu hoạt tính

sinh học.

1. T àn p ần ây ng ẩ (B. laxiflora)

Bằng các phương pháp sắc ký cột, các phương pháp phổ MS,

NMR xác định cấu trúc hóa học của 20 hợp chất ký hiệu từ BL-1

đến BL-20, trong đó có 1 hợp chất mới BL-10; 3 hợp chất (BL-11;

BL-12; BL-16) lần đầu phân lập từ loài B. laxiflora.

2. T àn p ần ây vú bò Ficus hirta

Bằng các phương pháp sắc ký cột, đã phân lập được 11 hợp

chất sạch. Bằng các phương pháp phổ MS, phổ cộng hưởng từ hạt

nhân NMR một chiều, hai chiều đã xác định cấu trúc hóa học của

11 hợp chất: trong đó 1 hợp chất mới F-6 (5-O-[β-D-

apiofuranosyl-(1→2)-β-D-glucopyranosyl]bergaptol), 1 hợp chất

lần đầu tiên phân lập từ tự nhiên F-1 (6,7-furano-hydrocoumaric

acid methyl ester), 8 hợp chất F-3 ->F-11 lần đầu tiên phân lập từ

loài này.

3. Về oạt tín sin

Lần đầu tiên thử nghiệm hoạt tính chống tăng sinh trên dòng

tế bào bạch cầu tủy xương cấp tính (OCI-AML) đối với các hợp

chất BL-1, BL-2, BL-4, BL-6, BL-7, BL-9, từ loài ngọc cẩu (B.

laxiflora). Lần đầu tiên công bố hoạt tính hợp chất BL-4 tách ra

từ loài B. Laxiflora có hoạt tính mạnh chống tăng sinh trên dòng tế

bào bạch cầu tủy xương cấp tính (OCI-AML) với nồng độ 80,5 μM.

Lần đầu tiên ở Việt Nam tiến hành thử nghiệm hoạt tính gây

độc tế bào trên 4 dòng tế bào ung thư: ung thư biểu mô KB, ung

thư gan Hep-G2, ung thư phổi Lu-1, ung thư vú MCF-7 của 4

chất sạch (BL-4, BL- 10, BL-11, BL-12) tách ra từ loài B.

Laxiflora.

Hợp chất BL-4, BL-12 có hoạt tính gây độc tế bào trên dòng

ung thư biểu mô KB với giá trị IC50 lần lượt là 107,06 và 80,37

µM. Các hợp chất còn lại có hoạt tính yếu hoặc không có hoạt

tính.

❖ Kết l ận ng

Các kết quả của luận án đã thực hiện được mục tiêu đề ra là

nghiên cứu thành phần hóa học của các loài F. hirta và B.

laxiflora ở Việt Nam và thử nghiệm một số hoạt tính sinh học

của các chất sạch có hàm lượng lớn. Trong tổng số 31 hợp chất

tách ra được có: hai hợp chất mới, một hợp chất mới phân lập từ

tự nhiên, 8 hợp chất lần đầu tiên phân lập từ loài F. hirta, 3 chất

và một hỗn hợp có hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào

ung thư thử nghiệm.

.

❖ Kiến ng ị

1. Tiếp tục nghiên cứu thành phần hóa học một số loài

Ngọc cẩu ở Việt Nam, tiếp tục nghiên cứu các bộ phận

của loài vú bò: lá, quả, thân ở Việt Nam.

2. Nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính và cơ chế tác dụng của

các hợp chất có hoạt tính để làm rõ bản chất cũng như

làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

1. Ng iên ứ t àn p ần và oạt tín sin ây

ng ẩ (B. laxiflora).

- Loài ngọc cẩu (B. laxiflora) ở Việt Nam lần đầu được nghiên

cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học. 20 Hợp chất

được phân lập và xác định cấu trúc hóa học, trong đó có 1 hợp

chất mới balanochalcone (BL-10), 3 hợp chất [β-

hydroxydihydrochalcone (BL-11), dimethyl 6,9,10-

trihydroxybenzo[kl]xanthene-1,2-dicarboxylat (BL-12), 5-

hydroxymethylfurfural (BL-16)] lần đầu phân lập từ loài B.

laxiflora.

- Lần đầu tiên công bố hoạt tính hợp chất methyl 3,4-

dihydroxycin (BL-4) tách ra từ loài B. Laxiflora có hoạt tính mạnh

chống tăng sinh trên dòng tế bào bạch cầu tủy xương cấp tính (OCI-

AML) ở nồng độ 80,5 μM.

- Lần đầu tiên ở Việt Nam tiến hành thử nghiệm hoạt tính gây

độc tế bào trên 4 dòng tế bào ung thư: ung thư biểu mô KB, ung

thư gan Hep-G2, ung thư phổi Lu-1, ung thư vú MCF-7 của 4

chất sạch (methyl 3,4-dihydroxycinnamate (BL-4),

balanochalcone (BL- 10), β-hydroxydihydrochalcone dimethyl

(BL-11), 6,9,10-trihydroxybenzo[kl]xanthene-1,2-dicarboxylat

(BL-12) tách ra từ loài B. Laxiflora, trong đó hợp chất methyl

3,4-dihydroxycin (BL-4) và hợp chất 6,9,10-

trihydroxybenzo[kl]xanthene-1,2-dicarboxylat (BL-12) có hoạt

tính gây độc tế bào trên dòng ung thư biểu mô KB với giá trị IC50

lần lượt là 107,06 và 80,37 µM.

2. Ng iên ứ t àn p ần và oạt tín sin ây

vú bò (F. hirta).

Loài F. hirta ở Việt Nam lần đầu được nghiên cứu về thành

phần hóa học và hoạt tính sinh học, 11 hợp chất sạch được phân

lập và xác định cấu trúc hóa học, trong đó 1 hợp chất mới 5-O-[β-

D-apiofuranosyl-(1→2)-β-D-glucopyranosyl]bergaptol (F-6), 1 hợp

chất lần đầu tiên phân lập từ tự nhiên 6,7-furano-hydrocoumarate

methyl ester (F-1), 8 hợp chất [bergapten (F-3), ethyl β-D-

fructofuranoside (F-4), ethyl β-D-glucopyranoside (F-5),

adenosine (F-7), 6-carboxyumbelliferone (F-8), picraquassioside

A (F-9), rutin (F-10), acid aspartic (F-11)] lần đầu tiên phân lập

từ loài F. hirta.

DANH MỤC CÁC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Trần Đứ Đại, Nguyễn Quyết Tiến, Nguyễn Ngọc Tuấn,

Nguyễn Quảng An, Trương Thị Thanh Nga, Trịnh Thị Thủy,

Đặng Ngọc Quang. Thành phần hóa học của cây ngọc cẩu

(Balanophora laxiflora Hemsl) thu tại Tuyên Quang. Phần 2

các hợp chất glucoside. Tạp chí hóa học Việt Nam, 2016,

vol 54 (6e2), 48-52.

2. Trần Đứ Đại, Nguyễn Quyết Tiến, Nguyễn Ngọc Tuấn,

Nguyễn Quảng An, Trương Thị Thanh Nga, Trịnh Thị Thủy,

Nguyễn Thị Tuyết, Đặng Ngọc Quang. Thành phần hóa học

của cây ngọc cẩu (Balanophora laxiflora Hemsl) thu tại

Tuyên Quang. Phần 1 Thành phần hóa học trong các dịch

chiết ít phân cực. Tạp chí hóa học Việt Nam, 2017, 55 (1),

48-51.

3. Dang Ngoc Quang, Tran Cong So, Nguyen Thi Phuong Thanh,

Le Thi Phuong Hoa, Pham Huu Dien, Truong Minh Luong,

Nguyen Quang Tung, Le Duc Long, Tran Duc Dai & Nguyen

Quyet Tien. Balanochalcone, a new chalcone from

Balanophora laxiflora Hemsl. Natural Product Research

(2018), 32 (7), 767-772.

4. Tran Duc Dai, Trinh Thi Thuy, Nguyen Ngoc Tuan,

Nguyen Quang An, Truong Thi Thanh Nga, Hoang Duy

Cuong, Nguyen Quyet Tien. Chemical constituents of

(Balanophora laxiflora) collected in Tuyen Quang. Par 3.

Polyphenol compounds. Vietnam Journal of chemistry.

accepted 6/2/2018.

5. Tran Duc Dai, Nguyen Thanh Tam, Dao Duc Thien,

Nguyen Hoang Sa, Trinh Thi Thuy, Nguyen Thi Hoang

Anh, Tran Duc Quan. A new furanocoumarin glycoside from

the roots of Ficus hirta. Letters in organic chemistry. Under

review 11/2017.